MƯỜI ĐIỀU RĂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Sứ đồ Giăng viết rằng, “Đức Chúa Trời là sự yêu thương” (1 Giăng 4:8). Chính Đức Chúa Giê-su cũng phán về điều răn lớn nhất như sau, “Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi,” và “ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình” (Ma-thi-ơ 22:37, 39).
Khi nói Đức Chúa Trời là sự yêu thương và luật pháp của Ngài dựa trên tình yêu thương, chúng ta muốn chứng tỏ rằng mọi mối quan hệ giữa những hữu thể có lý trí, bao gồm mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời và mối quan hệ của Ngài với chúng ta, đều phải được xây dựng trên tình yêu thương.
Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời cho biết mối quan hệ yêu thương ấy phải như thế nào khi chúng ta tương giao với Ngài và với nhau. Nhưng còn Đức Chúa Trời thì sao? Ngài là Đấng đồng hành trong mối quan hệ yêu thương với chúng ta. Vì vậy, có thể nói rằng mối quan hệ của Ngài với chúng ta cũng phải được xác định bởi những nguyên tắc nhất định. Vậy Đức Chúa Trời giữ những luật lệ yêu thương nào? Mười Điều Răn của Ngài là gì?
Mười Điều Răn Của Chúng Ta
Có thể bạn sẽ nói, “Đức Chúa Trời cũng nên giữ Mười Điều Răn của chúng ta, giống như chúng ta vậy!”
Thoạt nhìn, điều đó có vẻ hợp lý. Nhưng hãy cùng xem lại Mười Điều Răn Đức Chúa Trời ban cho chúng ta tại núi Si-nai và xét xem Ngài cần phải tuân giữ những điều nào.
Điều răn thứ nhất, “Trước mặt Ta, ngươi chớ có các thần khác” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:3). Điều này có nghĩa là con người không được đặt bất cứ điều gì lên trên mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Nhưng vì chính Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời duy nhất, nên Ngài không thể đặt một thần nào khác lên trên chính mình. Vì vậy, điều răn này dành cho chúng ta chứ không áp dụng cho Đức Chúa Trời.
Điều răn thứ hai, dạy chúng ta không được làm tượng chạm bằng gỗ hay đá rồi thờ lạy chúng (câu 4–6). Cùng một lý do như điều răn thứ nhất, điều răn thứ hai cũng không dành cho Đức Chúa Trời.
Điều răn thứ ba, “Ngươi chớ lấy danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi” (câu 7), hay theo bản dịch New King James Version có chép, “Ngươi chớ lấy danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà dùng cách thiếu tôn kính.” Điều này có nghĩa là chúng ta không nên xem nhẹ danh Đức Chúa Trời, chẳng hạn như dùng danh Ngài để bày tỏ sự bực tức hay giận dữ. Thật khó hình dung rằng Đức Chúa Trời lại cần phải cẩn thận về cách Ngài nói về chính mình. Điều răn này cũng là luật pháp dành cho chúng ta, chứ không phải dành cho Đức Chúa Trời.
Điều răn thứ tư, “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh” (câu 8). Ngày Sa-bát đã bắt đầu từ buổi Sáng thế, và đây cũng là một trong Mười Điều Răn mà chính Đức Chúa Trời vâng giữ. Kinh Thánh chép rằng, “Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời làm xong các công việc Ngài đã làm, và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm. Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc đã dựng nên và đã làm xong rồi” (Sáng thế Ký 2:2, 3). Điều răn về ngày Sa-bát cũng chép rằng, “Vì trong sáu ngày Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:11). Đức Chúa Trời đã nghỉ ngơi trong ngày Sa-bát đầu tiên, ban phước và đặt làm ngày thánh. Có thể khẳng định rằng bất cứ khi nào con người nghỉ ngơi trong ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời cũng cùng chúng ta bước vào sự yên nghỉ ấy. Vì vậy, điều răn về ngày Sa-bát cũng được chính Đức Chúa Trời vâng giữ.
Điều răn thứ năm, “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi” (câu 12). Đức Chúa Trời là Đấng tự hữu và hằng hữu, Ngài không được sinh ra bởi cha mẹ. Vì vậy, điều răn này không thể áp dụng cho Ngài.
Điều răn thứ sáu, “Ngươi chớ giết người” (câu 13). Đức Chúa Trời không cho phép chúng ta tước đoạt mạng sống của người khác. Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa của muôn vật, và Ngài có quyền cất đi mạng sống của chúng ta vào thời điểm mà Ngài thấy là tốt nhất. Vì vậy, điều răn thứ sáu không áp dụng cho Đức Chúa Trời.
Điều răn thứ bảy, “Ngươi chớ phạm tội tà dâm” (câu 14). Đức Chúa Trời không phải là nam cũng không phải là nữ. Mặc dù chúng ta vẫn thường dùng đại từ “Ngài” để nói về Đức Chúa Trời, hầu hết những người học Kinh Thánh đều đồng ý rằng cách gọi này phù hợp hơn là dùng một đại từ trung tính như “Nó.” Đức Chúa Trời không thể phạm tội tà dâm. Kinh Thánh cho biết Đức Thánh Linh đã khiến Ma-ri mang thai và sinh Chúa Giê-su (Lu-ca 1:35), nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là Ngài phạm tội tà dâm. Điều răn thứ bảy là điều răn chúng ta phải vâng giữ, chứ không phải điều răn Đức Chúa Trời phải giữ.
Điều răn thứ tám, “Ngươi chớ trộm cướp” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:15). Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời là Chủ của mọi sự. Ngài phán qua người viết sách Thi thiên rằng, “Vì hết thảy thú rừng đều thuộc về Ta, các bầy súc vật tại trên ngàn núi cũng vậy.” Ngài phán tiếp, “Nếu Ta đói, Ta chẳng nói cho ngươi hay; Vì thế gian và muôn vật ở trong, đều thuộc về Ta” (Thi thiên 50:10, 12). Vì ngay từ đầu mọi sự trên thế gian đều thuộc về Đức Chúa Trời, nên khi Ngài lấy lại một điều gì đó từ chúng ta, Ngài không phải là kẻ trộm. Điều răn này cũng không áp dụng cho Ngài.
Điều răn thứ chín, “Ngươi chớ nói chứng dối cho kẻ lân cận mình” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:16). Cơ Đốc nhân thường hiểu điều này có nghĩa là chúng ta không được nói dối. Tôi cho rằng đây là một điều khác trong Mười Điều Răn của chúng ta mà Đức Chúa Trời vâng giữ. Phao-lô nói rằng Đức Chúa Trời “không thể nói dối” (Tít 1:2). Chúng ta có thể hoàn toàn tin cậy rằng Đức Chúa Trời luôn thành thật với chúng ta.
Điều răn thứ mười, “Ngươi chớ tham nhà kẻ lân cận ngươi” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17). Tham muốn nghĩa là khao khát chiếm hữu một điều thuộc về người khác. Cũng như Đức Chúa Trời không thể trộm cắp, bởi vì ngay từ đầu mọi sự đều thuộc về Ngài, Ngài cũng không thể tham muốn điều thuộc về người khác. Vì vậy, điều luật này cũng không áp dụng cho Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời ban Mười Điều Răn để dạy chúng ta cách tương giao với Ngài và với người lân cận mình. Ngoại trừ hai điều răn, thứ tư và thứ chín, những điều răn khác không dành cho Đức Chúa Trời.
Mười Điều Răn Của Đức Chúa Trời
Nhưng điều đó không có nghĩa là Đức Chúa Trời không tự ràng buộc mình trong mối quan hệ với chúng ta. Ngài vâng giữ nhiều hơn Mười Điều Răn. Mỗi lời hứa trong Kinh Thánh đều là một điều răn mà Đức Chúa Trời cam kết thực hiện trong mối quan hệ của Ngài với chúng ta. Bạn có thể tự lập danh sách riêng cho mình. Còn đây là mười điều tôi đề ra:
1. Ta sẽ luôn yêu thương ngươi. Qua tiên tri Giê-rê-mi, Đức Chúa Trời phán, “Ta đã lấy sự yêu thương đời đời mà yêu ngươi” (Giê-rê-mi 31:3). Để minh họa về tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta, Chúa Giê-su kể câu chuyện về một con chiên lạc mất khỏi bầy. Người chăn chiên đã đi tìm nó cho đến khi tìm được (Lu-ca 15:3-7). Cũng vậy, ngay cả khi chúng ta phạm tội nghịch cùng Ngài, Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục yêu thương và tìm kiếm chúng ta.
2. Ta sẽ luôn ở cùng ngươi. Đức Chúa Trời hứa, “Ta sẽ chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu” (Hê-bơ-rơ 13:5; xem Phục truyền Luật lệ Ký 31:6). Ngay trước khi thăng thiên, Chúa Giê-su cũng bảo đảm với các môn đồ rằng, “Và nầy, Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Ma-thi-ơ 28:20). Dù hoàn cảnh trước mắt có khiến chúng ta nản lòng đến đâu, chúng ta vẫn có thể chắc chắn rằng Đức Chúa Trời đang ở cùng chúng ta!
3. Ta sẽ không ép buộc ngươi phải tin Ta hay vâng lời Ta. Chúa Giê-su phán, “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ” (Ma-thi-ơ 11:28). Như có chép trong sách Khải huyền, Giăng nói rằng, “Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không” (Khải huyền 22:17). Đức Chúa Trời mời gọi chúng ta đến với Ngài, nhưng Ngài sẽ không ép buộc chúng ta phải đến.
4. Ta sẽ cáo trách ngươi về những điều sai trái ngươi làm. Không ai mong muốn chúng ta có một đời sống hạnh phúc hơn Đức Chúa Trời. Thật đáng buồn, tất cả chúng ta đều có những hành động và suy nghĩ theo cách hủy hoại hạnh phúc của chính mình. Chúng ta gọi những hành động và thái độ ấy là “tội lỗi.” Đức Chúa Trời hứa sẽ giúp chúng ta nhận biết những điều sai trái ấy để chúng ta có thể thay đổi cách sống và tìm được một đời sống hạnh phúc hơn. Chúa Giê-su phán rằng Đức Thánh Linh sẽ “khiến thế gian tự cáo về tội lỗi” (Giăng 16:8).
5. Ta sẽ luôn tha thứ cho ngươi. Khi ăn năn tội lỗi mình và xưng nó ra, chúng ta có thể chắc chắn rằng Đức Chúa Trời sẽ tha thứ tất cả. Sứ đồ Giăng viết, “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác” (1 Giăng 1:9). Chúng ta không cần phải tiếp tục mang cảm giác tội lỗi thêm một giây phút nào sau khi đã cầu xin Đức Chúa Trời tha thứ.
6. Ta sẽ ngự trong ngươi. Trước khi Ngài thăng thiên, Chúa Giê-su phán, “Hãy cứ ở trong Ta, thì Ta sẽ ở trong các ngươi” (Giăng 15:4). Chúng ta cần Đức Chúa Trời ngự trong mình, bởi chỉ nhờ quyền năng của Ngài, chúng ta mới có thể sống một đời sống giống như Ngài và vâng giữ các điều răn của Ngài.
7. Ta sẽ ban cho ngươi sự khôn ngoan để hiểu Lời Ta. Một trong những lời cầu nguyện cuối cùng của Chúa Giê-su, Ngài khẳng định, “Lời Cha tức là lẽ thật” (Giăng 17:17). Ngài cũng nói với các môn đồ rằng khi Đức Thánh Linh đến, Ngài sẽ dẫn họ vào mọi lẽ thật (Giăng 16:13). Vì vậy, khi bạn học Kinh Thánh với lòng chân thành và khao khát hiểu biết về lẽ thật của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ soi sáng để bạn hiểu Lời Ngài.
8. Ta sẽ không ghi nhớ những tội lỗi ngươi đã xưng nhận. Đúng là Đức Chúa Trời có ghi chép những việc chúng ta đã làm (Khải huyền 20:11-13). Nhưng Ngài hứa sẽ xóa bỏ những tội lỗi mà chúng ta xưng nhận với Ngài. Đức Chúa Trời phán qua tiên tri Ê-sai, “Ta đã xóa sự phạm tội ngươi như mây đậm, và tội lỗi ngươi như đám mây” (Ê-sai 44:22). Người khác có thể cáo buộc chúng ta. Sa-tan có thể khiến chúng ta cảm thấy mình không xứng đáng nhận được ân huệ của Đức Chúa Trời vì những lỗi lầm chúng ta gây ra. Nhưng chúng ta không cần phải lo sợ rằng Đức Chúa Trời sẽ đem những tội lỗi chúng ta đã xưng nhận ra để chống lại chúng ta trong ngày phán xét.
9. Ta sẽ sắm sẵn cho ngươi một chỗ tốt đẹp hơn thế giới đầy đau thương này. Mỗi khi một người bạn hay người thân qua đời, lòng chúng ta lại khao khát một thế giới tốt đẹp hơn. Không lâu trước khi trở về trời, Chúa Giê-su hứa với các môn đồ rằng trong nhà Cha Ngài có nhiều chỗ ở. Ngài đi để sắm sẵn một nơi cho họ (Giăng 14:2). Phi-e-rơ cũng nói rằng, “Theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới đất mới, là nơi sự công bình ăn ở” (2 Phi-e-rơ 3:13). Trong thế giới mới này, “Sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi” (Khải huyền 21:4).
10. Ta sẽ trở lại. Chúa Giê-su cũng hứa với các môn đồ, “Khi Ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó” (Giăng 14:3). Một trong những lời hứa được nhắc đến thường xuyên nhất trong Tân Ước chính là lời hứa về sự tái lâm của Chúa Giê-su. Đây là một trong những điều răn của Đức Chúa Trời mà Ngài mong muốn thực hiện nhất!
Mỗi lời hứa của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh đều là một điều răn mà Ngài cam kết giữ vững trong mối quan hệ của Ngài với chúng ta. Bạn hãy một lần tự viết ra danh sách “Mười Điều Răn Của Đức Chúa Trời” dành cho riêng mình.
Andrew Gordon
“God's Ten Commandments,”
Signs of the Times 153, no. 9 (2026)
Phỏng dịch



































